Research on environmental risk assessment in coastal areas: Overview of methodology
- Institute for Environment and Resources, VNU-HCM, Vietnam
- Ho Chi Minh City Union of Science and Technology Associations, Vietnam
- Institute for Circular Economy Development, VNU-HCM, Vietnam
Abstract
Coastal areas always contain numerous environmental risks due to the effects of climate change and the development process. To estimate the level of risk for the environment for each coastal area to implement solutions reducing risks and pressure for sustainable development is being increasingly concerned by researchers. This study performs an overview of the papers that have been published in reputable journals related to risk assessment in the coastal environment and has found that there are 1,720 studies related to coastal environmental risk assessment in the period 2010 - 2020, of which 61 studies assess risks in the coastal environment based on composition factors: hazard, exposure, sensitivity, and adaptability. The study also analyzes and synthesizes commonly key variables and methods used to determine the component factors and framework of coastal environmental risk evaluation. The results of this study may strongly support further studies related to risk assessment in the coastal environment resulted from negative impacts and may contribute to sustainable development in coastal regions in Vietnam in the future.
MỞ ĐẦU
Với đặc trưng đa dạng về tài nguyên và nhiều dịch vụ có lợi được cung cấp bởi các hệ sinh thái 1, vùng ven biển là nơi chuyển tiếp giữa biển và đất liền 2 có mật độ dân số và tốc độ phát triển cao hơn so với các vùng khác3, 4. Tuy nhiên, với đặc thù là vùng có địa hình thấp5 và tốc độ phát triển nhanh, các vùng ven biển trên thế giới đang chịu tác động của biến đổi khí hậu3, 6 và sự cố môi trường do hoạt động của con người3, 7, 8 nên vùng ven biển luôn tìm ẩn nhiều rủi ro môi trường cao hơn so với các vùng khác từ lục địa4, gây nhiều áp lực, thách thức cho quá trình phát triển vừa đảm bảo tạo ra lợi ích cho xã hội nhưng vừa đảm bảo duy trì cân bằng, hoạt động ổn định của các hệ sinh thái ven biển9.
Để giảm mức độ chịu tác động bất lợi đến quá trình phát triển vùng ven biển do nguy cơ xảy ra các hiểm họa từ biến đổi tự nhiên hoặc hoạt động của con người, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung ước lượng mức độ dễ bị tổn thương hoặc rủi ro môi trường vùng ven biển. Tính dễ bị tổn thương được định nghĩa là hàm tùy thuộc vào khả năng bị phơi nhiễm, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống10, 11, 12, 13, trong đó yếu tố Phơi nhiễm đề cập đến tần suất và cường độ tác động của các hiện tượng cực đoan, yếu tố Độ nhạy thể hiện sự thiếu khả năng chống chịu khi tiếp xúc với các mối nguy và yếu tố Khả năng thích ứng là khả năng chống lại hoặc khả năng phục hồi của hệ thống từ những thay đổi 14, 15, 16. Rủi ro môi trường được ước lượng dựa vào xác suất và hậu quả gây ra bởi các mối nguy17. Việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến “Tính dễ bị tổn thương” và “Rủi ro môi trường” giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa được thống nhất trong các cộng đồng, các hướng nghiên cứu khoa học khác nhau. Khái niệm rủi ro thường được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên chú trọng, trong khi thuật ngữ tính dễ bị tổn thương thường được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội đề cập đến18. Trong phạm vi nghiên cứu, khái niệm rủi ro môi trường được sử dụng và nguy cơ xảy ra các mối nguy đe dọa đến vùng ven biển bao gồm cả yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người3, 19.
Bài báo này được thực hiện với mục tiêu tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển đã được công bố trên các tạp chí khoa học thuộc hệ cơ sở dữ liệu Web of Science hoặc Scopus trong giai đoạn 2010 – 2020 theo xu hướng phân tích, đánh giá dựa trên các yếu tố thành phần: Hiểm họa, Phơi nhiễm, Độ nhạy và Khả năng thích ứng từ các mối nguy do biến đổi tự nhiên hoặc hoạt động của con người, trong đó chú trọng cách xác định từng yếu tố thành phần dựa theo các biến đặc trưng, ước lượng mức độ rủi ro môi trường dựa trên cơ sở tích hợp các yếu tố thành phần và phương pháp thực hiện để chọn được thành phần tối ưu và chỉ ra phương pháp tối ưu hỗ trợ các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường, góp phần phát triển bền vững vùng ven biển của Việt Nam.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan nghiên cứu là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học. Qui trình tổng quan tài liệu tùy thuộc vào từng lĩnh vực và từng nhà nghiên cứu nhưng thường được thực hiện qua các bước liên quan đến tìm kiếm, sàng lọc, tổng hợp và phân tích20. Với đặc thù nghiên cứu rủi ro môi trường vùng ven biển do các mối nguy từ biến đổi tự nhiên hoặc sự cố môi trường do hoạt động của con người, nghiên cứu này được thực hiện qua 03 bước: Tìm kiếm, sàng lọc dữ liệu và phân tích thông tin theo chủ đề.
Tìm kiếm dữ liệu
Vì không thể nghiên cứu tất cả các bài báo được công bố về đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển, nghiên cứu được giới hạn chỉ tham khảo các bài báo được công bố trên các tạp chí liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển thuộc hệ cơ sở dữ liệu Web of Science hoặc Scopus trong giai đoạn 2010 đến 2020 (Science of the Total Environment, Ocean and Coastal Management, Ecological Indicators, Marine Pollution Bulletin, Environmental Management). Các tài liệu được tìm kiếm dựa trên các cụm từ “Environmental risk”, “Environmental incident” hoặc “vulnerability” và cho thấy 1.720 bài báo đã được công bố.
Sàng lọc dữ liệu
Dựa trên tiêu đề và nội dung phần tóm tắt của 1.720 bài báo được công bố, sàng lọc dữ liệu được thực hiện dựa trên các tiêu chí nhằm thu được tập hợp các công trình nghiên cứu tương đối đồng nhất, có nghĩa là hình thành một tập hợp các tài liệu có hướng nghiên cứu gần tương tự nhau để tiến hành phân tích nội dung theo chủ đề21. Tiêu chí được chọn là sự phù hợp với mục tiêu đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển do yếu tố tự nhiên hoặc con người dựa trên một trong các yếu tố thành phần: Hiểm họa, Phơi nhiễm, Độ nhạy và Khả năng thích ứng nhưng có thể sử dụng các biến khác nhau hoặc phương pháp khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của vùng nghiên cứu hoặc do quá trình thu thập dữ liệu, thông tin để đánh giá. Các tài liệu không đáp ứng tiêu chí sàng lọc sẽ bị loại trừ nên tập hợp 1.720 bài báo đã được tìm kiếm cuối cùng 61 bài báo được chọn để tổng hợp, phân tích thông tin theo chủ đề.
Phân tích thông tin
Phân tích nội dung là công cụ kỹ thuật hiệu quả để phân tích các tài liệu đã được tổng hợp một cách có hệ thống22, 23 và được thực hiện trên cơ sở tách các từ hoặc nhóm từ thành các danh mục ít nội dung liên quan hơn23 để xác định xu hướng và thay đổi trong nội dung21. Phân tích nội dung của tất cả 61 bài báo được chọn, trước tiên tiến hành phân tích dựa theo đặc trưng của các mối nguy tiềm ẩn gây rủi ro môi trường vùng ven biển tùy thuộc vào yếu tố tự nhiên hoặc con người và sau đó tiến hành phân tích dựa theo các yếu tố thành phần liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển: Hiểm họa, Độ nhạy, Phơi nhiễm và Khả năng thích ứng và cuối cùng phân tích các khung tích hợp đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển dựa theo các yếu tố thành phần.
KẾT QUẢ
Yếu tố Độ nhạy
Trong tổng số các bài báo được chọn có 63% các công trình nghiên cứu tích hợp yếu tố Độ nhạy để ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển do đa mối nguy từ yếu tố tự nhiên cũng như tác động của con người. Yếu tố Độ nhạy được ước lượng dựa vào các khía cạnh tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường (Figure 1). Các biến được sử dụng để ước lượng giá trị Độ nhạy ngoài phụ thuộc vào các khía cạnh còn tùy thuộc vào đặc trưng của từng vùng nghiên cứu, khả năng thu thập dữ liệu được các bài báo đề cập đến (Table 1). Các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp chỉ số để ước lượng giá trị Độ nhạy.

Yếu tố Độ nhạy được ước lượng tùy thuộc vào các khía cạnh (%)
Các biến đặc trưng cấu thành yếu tố Độ nhạy
|
Stt |
Các khía cạnh cấu thành |
Các biến đặc trưng |
Nguồn tham khảo |
|
1 |
Tự nhiên |
Địa hình, địa mạo, mức độ dịch chuyển đường bờ, độ dốc vùng bờ, mực nước biển dâng tương đối, chiều cao sóng có ý nghĩa |
|
|
2 |
Tự nhiên, kinh tế xã hội |
Địa hình, địa mạo, mức độ dịch chuyển đường bờ, độ dốc vùng bờ, mực nước biển dâng tương đối, chiều cao sóng có ý nghĩa, mật độ dân số, dân số dễ bị tổn thương, tình trạng thất nghiệp |
|
|
3 |
Tự nhiên, môi trường |
Địa hình, mức độ dịch chuyển đường bờ, độ dốc vùng bờ, mực nước biển dâng tương đối, hệ sinh thái, thảm phủ thực vật |
|
|
4 |
Kinh tế xã hội, môi trường |
Mật độ dân số, khu dân cư, hoạt động cảng, du lịch, khu bảo tồn thiên nhiên |
|
|
5 |
Tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường |
Mức độ dịch chuyển đường bờ, độ dốc vùng bờ, mực nước biển dâng tương đối, hoạt động cảng, chăn nuôi, mức độ ưu tiên bảo vệ các loài, khu bảo tồn thiên nhiên |
|
Yếu tố Phơi nhiễm
Các nghiên cứu được chọn để phân tích có 56% phân tích rủi ro môi trường vùng ven biển có tích hợp yếu tố Phơi nhiễm, trong đó các công trình nghiên cứu ước lượng mức độ rủi ro môi trường do hoạt động của con người có xu hướng tích hợp yếu tố Phơi nhiễm cao hơn so với yếu tố tự nhiên, với tỷ lệ tương ứng 59% và 41%. Các phương pháp được sử dụng để ước lượng mức độ phơi nhiễm chủ yếu sử dụng 02 phương pháp chính: Phương pháp chỉ số và phương pháp mô hình hóa, trong đó phương pháp mô hình hóa phần lớn được sử dụng để ước lượng mức độ phơi nhiễm do mối nguy từ hoạt động của con người theo không gian và thời gian và ngược lại phương pháp chỉ số áp dụng chủ yếu do mối nguy từ biến đổi tự nhiên (Table 2). Ước lượng mức độ phơi nhiễm do hoạt động của con người hầu hết sử dụng phương pháp mô hình hóa, chiếm đến 90%, ngược lại uớc lượng mức độ phơi nhiễm do yếu tố tự nhiên phần lớn sử dụng phương pháp chỉ số, chiếm 71%. Giá trị ước lượng mức độ phơi nhiễm được phân định theo không gian thành các mức phơi nhiễm khác nhau từ rất thấp đến rất cao và 100% các nghiên cứu phân định thành 3, 4 hoặc 5 mức phơi nhiễm.
Các phương pháp chính sử dụng ước lượng yếu tố Phơi nhiễm
|
Stt |
Mối nguy |
Phương pháp chính áp dụng |
Nguồn tham khảo |
|
1 |
Biến đổi tự nhiên |
Phương pháp chỉ số |
|
|
Phương pháp mô hình hóa |
| ||
|
2 |
Hoạt động con người |
Phương pháp chỉ số |
|
|
Phương pháp mô hình hóa |
|
Yếu tố Khả năng thích ứng
Trong tổng số các bài báo được chọn phân tích, chỉ có 8% bài báo tích hợp yếu tố Khả năng thích ứng trong ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển. Yếu tố Khả năng thích ứng được ước lượng dựa vào các khía cạnh xã hội; xã hội, môi trường, tự nhiên; xã hội, môi trường. Các biến được sử dụng để ước lượng giá trị Khả năng thích ứng được thể hiện tại Table 3. Các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp chỉ số để ước lượng giá trị Khả năng thích ứng.
Các biến đặc trưng cấu thành yếu tố Khả năng thích ứng
|
Stt |
Các khía cạnh cấu thành |
Các biến đặc trưng |
Nguồn tham khảo |
|
1 |
Kinh tế xã hội |
GDP/người, giáo dục, giao thông, y tế, thực thi pháp luật |
|
|
2 |
Kinh tế xã hội, môi trường |
Thu nhập, trình độ học vấn, tình trạng nhà ở, khả năng ứng phó, bảo vệ rừng ngập mặn, hệ sinh thái |
|
|
3 |
Tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường |
Khả năng phục hồi sau bão, thu nhập, các hoạt động công nghiệp, hệ sinh thái |
|
Yếu tố Hiểm họa
Đây là yếu tố cấu thành duy nhất đặc trưng xác suất xảy ra các mối nguy do yếu tố tự nhiên hoặc con người để ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển. Tuy nhiên, việc ước lượng giá trị này thường gặp nhiều khó khăn do khó thống kê đầy đủ các sự cố đã xảy ra trong quá khứ nên chỉ có 26% trong tổng số các bài báo được chọn để phân tích ước lượng giá trị Hiểm họa. Giá trị Hiểm họa được ước lượng từ các công trình nghiên cứu phần lớn sử dụng phương pháp chỉ số, tiếp theo sử dụng phương pháp mô hình hóa và phương pháp thống kê với các giá trị tương ứng 56%; 31% và 13% (Table 4).
Các phương pháp chính sử dụng ước lượng yếu tố Hiểm họa
|
Stt |
Mối nguy |
Phương pháp chính áp dụng |
Nguồn tham khảo |
|
1 |
Biến đổi tự nhiên |
Phương pháp chỉ số |
|
|
Phương pháp mô hình hóa |
| ||
|
2 |
Hoạt động con người |
Phương pháp chỉ số |
|
|
Phương pháp mô hình hóa |
| ||
|
Phương pháp thống kê |
|
Khung đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển
Với các bài báo được chọn để phân tích cho thấy trong 10 năm qua các nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển có xu hướng quan tâm đến mối nguy do biến đổi tự nhiên nhiều hơn do hoạt động của con người, chiếm 57%. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng 14 khung phương pháp đánh giá, ước lượng mức độ rủi ro môi trường, trong đó 08 khung phương pháp liên quan đến mối nguy do biến đổi tự nhiên và 06 khung phương pháp liên quan đến hoạt động của con người (Table 5).
Đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển liên quan đến mối nguy do biến đổi tự nhiên, phần lớn nghiên cứu tiếp cận ước lượng mức độ rủi ro môi trường dựa vào yếu tố Độ nhạy chỉ tùy thuộc vào đặc trưng của điều kiện tự nhiên, chủ yếu dựa vào đặc điểm địa hình, địa mạo vùng ven biển. Một số nghiên cứu đã bổ sung trọng số để thể hiện tầm quan trọng của các biến trong quá trình ước lượng mức độ rủi ro môi trường. Một số nghiên cứu khác, yếu tố Độ nhạy ngoài tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên còn đề cập đến đặc trưng kinh tế xã hội, môi trường vùng nghiên cứu. Ngoài ra, một số nghiên cứu tích hợp yếu tố Độ nhạy với Hiểm họa; Hiểm họa và Phơi nhiễm để ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển. Các nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển do biến đổi tự nhiên phần lớn được sử dụng phương pháp chỉ số dựa trên các yếu tố thành phần, kết hợp GIS để đánh giá, phân vùng rủi ro môi trường (Figure 2).
Về khía cạnh đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển do nguy cơ xảy ra sự cố môi trường từ hoạt động của con người, đặc biệt là các sự cố tràn dầu hoặc tràn hóa chất, phần lớn các công trình nghiên cứu chú trọng yếu tố Phơi nhiễm. Một số nghiên cứu tích hợp yếu tố Phơi nhiễm với yếu tố Độ nhạy để ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển. Một số nghiên cứu khác bổ sung yếu tố Hiểm họa và được tích hợp với yếu tố Độ nhạy, Phơi nhiễm để ước lượng mức độ rủi ro môi trường. Các nghiên cứu ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển do hoạt động của con người phần lớn sử dụng phương pháp chỉ số, phương pháp mô hình hóa, kết hợp GIS để đánh giá, phân vùng rủi ro môi trường (Figure 3).

Các khung phương pháp đánh giá rủi ro môi trường do mối nguy từ biến đổi tự nhiên (%)

Các khung phương pháp đánh giá rủi ro môi trường do mối nguy từ hoạt động con người (%)
Tổng hợp khung phương pháp đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển
|
Stt |
Mối nguy |
Các yếu tố thành phần được áp dụng |
Phương pháp chính áp dụng |
Nguồn tham khảo |
|
1 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy |
Phương pháp trọng số Phương pháp phân tích đa tiêu chí Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS và viễn thám |
|
|
2 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy, hiểm họa |
Phương pháp phân tích đa tiêu chí Phương pháp mô hình hóa Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
|
3 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy, phơi nhiễm |
Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
|
4 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy, hiểm họa, phơi nhiễm |
Phương pháp trọng số Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
|
5 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy, khả năng thích ứng |
Phương pháp trọng số Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS và viễn thám |
|
|
6 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy, phơi nhiễm, khả năng thích ứng |
Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS và viễn thám |
|
|
7 |
Biến đổi tự nhiên |
Độ nhạy, hiểm họa, phơi nhiễm, khả năng thích ứng |
Phương pháp trọng số Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS và viễn thám |
|
|
8 |
Biến đổi tự nhiên |
Phơi nhiễm, khả năng thích ứng |
Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS và viễn thám |
|
|
9 |
Hoạt động con người |
Độ nhạy |
Phương pháp chỉ số |
|
|
10 |
Hoạt động con người |
Độ nhạy, phơi nhiễm |
Phương pháp mô hình hóa Phương pháp trọng số Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS và viễn thám |
|
|
11 |
Hoạt động con người |
Độ nhạy, hiểm họa |
Phương pháp thống kê Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
|
12 |
Hoạt động con người |
Độ nhạy, hiểm họa, phơi nhiễm |
Phương pháp trọng số Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
|
13 |
Hoạt động con người |
Độ nhạy, phơi nhiễm, khả năng thích ứng |
Phương pháp trọng số Phương pháp mô hình hóa Phương pháp phân tích đa tiêu chí Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
|
14 |
Hoạt động con người |
Phơi nhiễm |
Phương pháp đo đạc, phân tích Phương pháp chỉ số Phương pháp GIS |
|
THẢO LUẬN
Ước lượng các yếu tố thành phần, Độ nhạy là yếu tố duy nhất thể hiện mức độ dễ bị tổn thương của hệ thống không có khả năng chống chịu trước tác động tiêu cực từ các mối nguy, chính vì vậy có đến 88,71% các công trình nghiên cứu tích hợp yếu tố Độ nhạy vào ước lượng mức độ rủi ro môi trường do các mối nguy. Để tăng tính định lượng, yếu tố Độ nhạy cần được ước lượng trên cơ sở tích hợp đầy đủ các biến đặc trưng cho điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế xã hội và môi trường sinh thái vùng nghiên cứu mà hiện chỉ có 11,29% công trình nghiên cứu đề cập đến.
Yếu tố Hiểm họa là một trong những yếu tố quan trọng để ước lượng mức độ rủi ro môi trường nhưng chỉ có 32,26% công trình nghiên cứu đề cập đến do khó ước lượng, nhất là hiểm họa do yếu tố tự nhiên, tuy nhiên nêu ước lượng dựa trên phương pháp chỉ số sẽ giúp khắc phục thiếu dữ liệu thống kê các sự cố đã xảy ra trong quá khứ tại một số khu vực nghiên cứu và hỗ trợ nhận định, đánh giá nguyên nhân xảy ra sự cố cũng như đưa ra các giải pháp hạn chế xảy ra sự cố từ các mối nguy do hoạt động của con người.
Với áp lực rủi ro môi trường vùng ven biển ngày một gia tăng từ các hiểm họa do yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người đến quá trình phát triển ổn định, bền vững đòi hỏi cần có khung phương pháp hợp lý, có độ tin cậy và tính định lượng cao để ước lượng mức độ rủi ro môi trường, hỗ trợ thực hiện các giải pháp giảm thiểu rủi ro một cách hiệu quả. Do đó, ngoài yếu tố Hiểm họa đặc trưng cho xác suất xảy ra các mối nguy, mức độ gây hậu quả cần tích hợp đầy đủ các khía cạnh liên quan đến yếu tố đặc trưng nhạy cảm dễ bị tổn thương của vùng nghiên cứu, mức độ phơi nhiễm tiềm năng và cần thiết chú trọng đến yếu tố khả năng thích ứng mà có đến 79,03% các bài báo được chọn phân tích chưa đề cập đến để ước lượng giá trị rủi ro môi trường vùng ven biển.
KẾT LUẬN
Mục tiêu thực hiện nghiên cứu nhằm tổng quan một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học thuộc hệ cơ sở dữ liệu Web of Science hoặc Scopus trong giai đoạn 2010 – 2020 liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển do nguy cơ xảy ra các hiểm họa từ yếu tố tự nhiên hoặc hoạt động của con người. Nghiên cứu đã tổng hợp, phân tích các cách tiếp cận để mô phỏng, ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển dựa trên các yếu tố thành phần: Hiểm họa, Phơi nhiễm, Độ nhạy và Khả năng thích ứng và tổng hợp các biến đặc trưng được chọn để xác định các yếu tố thành phần nêu trên liên quan đến điều kiện tự nhiên, xã hội và môi trường sinh thái. Đồng thời, nghiên cứu tổng hợp các phương pháp chính đã được các công trình nghiên cứu áp dụng xác định các yếu tố thành phần cấu thành để ước lượng giá trị rủi ro.
Kết quả nghiên cứu góp phần quan trọng, hỗ trợ các nghiên cứu tiếp theo tiếp cận thông tin, tổng quan về xu hướng thực hiện các mô hình ước lượng, đánh giá mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển đã được thực hiện trong thời gian qua làm cơ sở phát triển, từng bước nâng cao tính định lượng giá trị ước lượng mức độ rủi ro môi trường vùng ven biển do đa mối nguy, nâng cao chất lượng phân vùng rủi ro môi trường và hỗ trợ các nhà quản lý thực hiện quy hoạch, triển khai các chính sách phù hợp để giảm nguy cơ xảy ra các hiểm họa, nhất là các sự cố môi trường do hoạt động của con người và thích ứng với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày một gia tăng, góp phần phát triển bền vững vùng ven biển.
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Đại học Quốc gia TP.HCM đã tài trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu này (Đề tài C202124-25).
Xin cảm ơn đến Viện Môi trường và Tài nguyên đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi có thể hoàn thành nghiên cứu.
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả cam đoan không có xung đột lợi ích trong công bố bài báo “Nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường vùng ven biển: Tổng quan phương pháp luận”.
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Tác giả Lê Tân Cương chịu trách nhiệm tổng quan các nghiên cứu và phân tích các nội dung có liên quan theo hướng dẫn thực hiện của tác giả Nguyễn Hồng Quân. Tác giả Nguyễn Văn Phước chịu trách nhiệm hiệu chỉnh, hoàn thiện bài báo. Trong quá trình thực hiện, nhóm tác giả cùng thảo luận với nhau để hoàn thành bài báo.